Quy định mới về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Ngày 19/3/2021, Chính phủ ban hành Nghị định 21/2021/NĐ-CP (“Nghị định 21/2021“) quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bao gồm tài sản bảo đảm; xác lập, thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và xử lý tài sản bảo đảm. Nghị định 21/2021 sẽ có hiệu lực từ ngày 15/5/2021 và thay thế Nghị định 163/2006/NĐ-CP, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP và có những nội dung mới đáng lưu ý sau đây:

4.1 Bốn loại tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Điều 8 của Nghị định 21/2021 quy định, tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm:

 (1) Tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan cấm mua bán, cấm chuyển nhượng hoặc cấm chuyển giao khác về quyền sở hữu tại thời điểm xác lập hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm.

(2) Tài sản bán trong hợp đồng mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu.

 (3) Tài sản thuộc đối tượng của nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ bị vi phạm đối với biện pháp cầm giữ.

(4) Tài sản thuộc sở hữu toàn dân trong trường hợp pháp luật liên quan có quy định.

4.2 Một nghĩa vụ có thể được bảo đảm thực hiện bằng nhiều tài sản

 Theo Điều 5 của Nghị định 21/2021, ngoài quy định về một nghĩa vụ có thể được bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp bảo đảm đã được quy định trong Nghị Định 163/2006/NĐ-CP thì có bổ sung thêm quy định về việc một nghĩa vụ cũng có thể được bảo đảm thực hiện bằng nhiều tài sản. Phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ từng tài sản trong số các tài sản bảo đảm được xác định theo thỏa thuận của bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm. Trường hợp không có thỏa thuận thì bất kỳ tài sản nào trong số đó được dùng để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.

4.3 Những trường hợp không được truy đòi tài sản bảo đảm

Khoản 2 Điều 7 của Nghị định 21/2021 quy định, bên nhận bảo đảm không được truy đòi tài sản bảo đảm trong 4 trường hợp sau đây:

(1) Tài sản bảo đảm đã được bán, được chuyển nhượng hoặc đã được chuyển giao khác về quyền sở hữu do có sự đồng ý của bên nhận bảo đảm và không được tiếp tục dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận.

 (2) Tài sản thế chấp được bán, được thay thế hoặc được trao đổi theo quy định của Bộ luật Dân sự.

(3) Tài sản bảo đảm không còn hoặc bị thay thế bằng tài sản khác theo quy định biến động về tài sản bảo đảm của Nghị định 21/2021.

(4) Trường hợp khác theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan.

4.4 Xử lý tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai

Theo Điều 55 của Nghị định 21/2021, việc xử lý tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai thực hiện theo thỏa thuận của các bên. Thỏa thuận này có thể có các nội dung sau đây:

 ▪ Trường hợp tài sản bảo đảm chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp thuộc đối tượng phải đăng ký theo quy định của pháp luật thì bên nhận bảo đảm có thể chuyển nhượng hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng khác về xác lập quyền đối với tài sản hình thành trong tương lai, nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm hoặc bán tài sản hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật.

▪ Trường hợp tài sản bảo đảm đã hình thành và bên bảo đảm đã xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thì bên nhận bảo đảm có thể nhận chính tài sản này để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm hoặc xử lý theo quy định chung về xử lý tài sản bảo đảm đối với tài sản hiện có.

 4.5 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo đảm

Đối với hợp đồng bảo đảm được công chứng, chứng thực theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan hoặc theo yêu cầu thì có hiệu lực từ thời điểm được công chứng, chứng thực. Các trường hợp còn lại thì hợp đồng bảo đảm có hiệu lực từ thời điểm do các bên thỏa thuận. Trường hợp không có thỏa thuận thì có hiệu lực từ thời điểm hợp đồng được giao kết.

 4.6 Thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng của biện pháp bảo đảm với người thứ ba

▪ Biện pháp bảo đảm chỉ phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba trong trường hợp hợp đồng bảo đảm đã có hiệu lực pháp luật.

▪ Trường hợp biện pháp bảo đảm phải đăng ký theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan hoặc được đăng ký theo thỏa thuận hoặc được đăng ký theo yêu cầu của bên nhận bảo đảm thì thời điểm đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật liên quan là thời điểm biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Nếu không thuộc trường hợp trên thì hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp cầm cố tài sản, đặt cọc, ký cược phát sinh từ thời điểm bên nhận bảo đảm nắm giữ tài sản bảo đảm.

▪ Trường hợp tài sản bảo đảm thuộc biện pháp bảo đảm cầm cố tài sản, đặt cọc, ký cược được giao cho người khác quản lý thì hiệu lực đối kháng của biện pháp bảo đảm với người thứ ba phát sinh từ thời điểm:

 ✓ Bên nhận cầm cố, bên nhận đặt cọc hoặc bên nhận ký cược nắm giữ tài sản bảo đảm.

 ✓ Người quản lý tài sản nhận trực tiếp tài sản bảo đảm từ bên cầm cố, bên đặt cọc hoặc bên ký cược.

✓ Hợp đồng bảo đảm có hiệu lực trong trường hợp người khác đang quản lý trực tiếp tài sản mà tài sản này được dùng để cầm cố, để đặt cọc hoặc để ký cược.

 ▪ Hiệu lực đối kháng của biện pháp ký quỹ với người thứ ba phát sinh từ thời điểm tài sản ký quỹ được gửi vào tài khoản phong tỏa tại tổ chức tín dụng nơi ký quỹ.

Nguồn: Global Vietnam Lawyers

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *