Quy định mới về vay và trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Business man show money bank note make financial plan invite people to sell or buy house and car – monetary properties loan credit insurance concept

Ngày 30/9/2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư 12/2022/TT-NHNN (“Thông tư 12”) hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh (tức khoản vay tự vay, tự trả) với những điểm mới đáng chú ý sau đây:

  1. Doanh nghiệp có thể không phải đăng ký khoản vay nước ngoài nếu đã trả nợ gốc trong vòng 30 ngày tính từ ngày đáo hạn

Theo khoản 3 Điều 11 của Thông tư 12, nếu khoản vay ngắn hạn nước ngoài không có thỏa thuận gia hạn nhưng còn dư nợ gốc (bao gồm cả nợ lãi được nhập gốc) tại thời điểm tròn 01 năm kể từ ngày rút vốn đầu tiên thì thuộc trường hợp phải đăng ký tại Ngân hàng nhà nước. Tuy nhiên, nếu bên đi vay hoàn thành thanh toán dư nợ gốc nói trên trong thời gian 30 ngày làm việc kể từ thời điểm tròn 01 năm tính từ ngày rút vốn đầu tiên thì không phải không phải đăng ký khoản vay nước ngoài (KVNN).

Như vậy, đối với trường hợp này, Thông tư 12 đã có sự điều chỉnh theo hướng tăng thời gian thanh toán để doanh nghiệp không phải tiến hành đăng ký khoản vay từ 10 ngày (theo quy định trước đây) lên thành 30 ngày.

  • Doanh nghiệp phải báo cáo tình hình thực hiện KVNN trên Trang điện tử của Ngân hàng Nhà nước

Theo quy định tại Điều 5, 8, 9 của Thông tư 12, doanh nghiệp phải sử dụng Trang điện tử của Ngân hàng Nhà nước tại địa chỉ www.sbv.gov.vn hoặc www.qlnh-sbv.cic.org.vn để thực hiện việc báo cáo tình hình thực hiện KVNN.

Trường hợp báo cáo gặp lỗi kỹ thuật (do lỗi của doanh nghiệp) thì doanh nghiệp tạm thời báo cáo tình hình thực hiện KVNN tự vay, tự trả bằng văn bản theo mẫu báo cáo tại Phụ lục 05 của Thông tư 12, đồng thời báo cáo cho Vụ Quản lý Ngoại hối về sự cố kỹ thuật này và cập nhật báo cáo tình hình thực hiện khoản vay tự vay, tự trả vào Trang điện tử ngay sau khi sự cố được khắc phục.

Trường hợp Trang điện tử gặp lỗi kỹ thuật (không phải lỗi của doanh nghiệp), sau khi sự cố được khắc phục thì Ngân hàng Nhà nước sẽ có trách nhiệm cập nhật báo cáo của doanh nghiệp vào Trang điện tử trên cơ sở báo cáo bằng văn bản của doanh nghiệp.

  • Thêm 05 trường hợp không cần thực hiện đăng ký thay đổi KVNN

So với quy định trước đây, Thông tư 12 đã bổ sung thêm 5 trường hợp không cần thực hiện đăng ký thay đổi KVNN mà chỉ cần thực hiện thông báo nội dung thay đổi trên Trang điện tử của Ngân hàng Nhà nước, bao gồm:

(i)            Thay đổi thời gian rút vốn, trả nợ gốc trong phạm vi 10 ngày làm việc so với kế hoạch đã được Ngân hàng Nhà nước xác nhận.

(ii)           Thay đổi kế hoạch trả lãi, phí của KVNN so với kế hoạch đã được Ngân hàng Nhà nước xác nhận tại văn bản xác nhận đăng ký, xác nhận đăng ký thay đổi KVNN nhưng không thay đổi cách xác định lãi, phí quy định tại thỏa thuận vay nước ngoài. 

(iii)          Thay đổi (tăng hoặc giảm) số tiền rút vốn, trả nợ gốc, lãi, phí trong phạm vi 100 đơn vị tiền tệ của đồng tiền vay nước ngoài so với số tiền đã nêu trong văn bản xác nhận đăng ký, văn bản xác nhận đăng ký thay đổi KVNN.

(iv)         Thay đổi số tiền rút vốn, trả nợ gốc thực tế của một kỳ cụ thể ít hơn số tiền được nêu tại kế hoạch rút vốn, trả nợ trên văn bản xác nhận đăng ký hoặc văn bản xác nhận đăng ký thay đổi KVNN.

(v)          Các KVNN đã được xác nhận nội dung về địa chỉ của bên cho vay tại văn bản xác nhận đăng ký, xác nhận đăng ký thay đổi, nếu có sự thay đổi địa chỉ bên cho vay nhưng không thay đổi quốc gia chủ nợ thì bên đi vay không cần thực hiện đăng ký thay đổi KVNN.

4. Những trường hợp doanh nghiệp FDI không bắt buộc sử dụng tài khoản vốn đầu tư trực tiếp

Theo khoản 2 Điều 26 của Thông tư 12, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phải sử dụng tài khoản vốn đầu tư trực tiếp để thực hiện các hoạt động liên quan đến việc vay, trả nợ nước ngoài. Tuy nhiên, những trường hợp sau đây, doanh nghiệp FDI được phép sử dụng tài khoản vay, trả nợ nước ngoài khác (tức không phải là tài khoản vốn đầu tư trực tiếp) để vay, trả nợ nước ngoài:

–              Đối với khoản vay trung, dài hạn nước ngoài mà đồng tiền vay không phải là đồng tiền của tài khoản vốn đầu tư trực tiếp, bên đi vay được mở tài khoản vay, trả nợ nước ngoài khác để thực hiện KVNN tại ngân hàng nơi bên đi vay mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp. Bên đi vay có thể dùng 01 tài khoản cho 01 hoặc nhiều KVNN.

–              Đối với khoản vay ngắn hạn nước ngoài, bên đi vay có thể sử dụng tài khoản vay, trả nợ nước ngoài khác để thực hiện các giao dịch thu, chi liên quan đến KVNN. Mỗi khoản vay chỉ được thực hiện thông qua 01 ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản. Bên đi vay có thể dùng 01 tài khoản cho 01 hoặc nhiều khoản vay ngắn hạn nước ngoài.

–              Đối với các khoản vay ngắn hạn còn dư nợ gốc tại thời điểm tròn 01 năm kể từ ngày rút vốn và bên đi vay sẽ thực hiện trả nợ trong thời gian 30 ngày làm việc tính từ ngày tròn 01 năm kể từ ngày rút vốn, bên đi vay thực hiện trả nợ qua tài khoản vay, trả nợ nước ngoài đang sử dụng cho khoản vay này.

–              Trường hợp doanh nghiệp FDI là tổ chức cùng chịu trách nhiệm liên đới đối với nghĩa vụ trả nợ KVNN của bên đi vay ban đầu sau khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhất, doanh nghiệp FDI không bắt buộc sử dụng tài khoản vốn đầu tư trực tiếp để thực hiện hoàn trả khoản nợ mà tổ chức này chịu trách nhiệm liên đới.

  • Mục đích mở tài khoản thực hiện KVNN của bên cho vay

Theo Điều 30 của Thông tư 12, bên cho vay mở và sử dụng tài khoản thanh toán bằng đồng Việt Nam của người không cư trú tại 01 tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam để thực hiện các mục đích sau:

–              Giải ngân, thu hồi nợ của KVNN bằng đồng Việt Nam trong trường hợp bên đi vay là doanh nghiệp FDI vay từ nguồn lợi nhuận từ hoạt động đầu tư trực tiếp trên lãnh thổ Việt Nam của bên cho vay là nhà đầu tư nước ngoài góp vốn tại bên đi vay.

–              Thu hồi nợ của khoản vay ngắn hạn được gia hạn thời gian trả nợ gốc mà tổng thời hạn của khoản vay là trên 01 năm và khoản vay ngắn hạn không có thỏa thuận gia hạn nhưng còn dư nợ gốc (bao gồm cả nợ lãi được nhập gốc) tại thời điểm tròn 01 năm kể từ ngày rút vốn đầu tiên nhưng không đủ điều kiện xác nhận đăng ký.

–              Thu hồi nợ của KVNN còn dư nợ nhưng văn bản xác nhận đăng ký, đăng ký thay đổi bị chấm dứt hiệu lực do hồ sơ có thông tin gian lận, tài liệu giả mạo.

Ngoài ra, bên cho vay còn được sử dụng tài khoản thanh toán bằng đồng Việt Nam cho các giao dịch như sau:

–              Thu từ nguồn lợi nhuận được chia từ hoạt động đầu tư trực tiếp trên lãnh thổ Việt Nam của bên cho vay.

–              Chi mua ngoại tệ để chuyển về tài khoản của bên cho vay ở nước ngoài.

–              Chi chuyển sang tài khoản thanh toán khác bằng đồng Việt Nam của bên cho vay mở tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

–              Chi trả phí dịch vụ liên quan đến quản lý tài khoản và giao dịch chuyển tiền qua tài khoản theo quy định của ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản.

Trường hợp bên cho vay sử dụng tài khoản ngoại tệ của người không cư trú tại ngân hàng thương mại để giải ngân, thu hồi nợ đối với KVNN phải tuân thủ quy định của pháp luật về hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.

Trường hợp mở và sử dụng tài khoản trên lãnh thổ Việt Nam, bên cho vay phải tuân thủ quy định của pháp luật về việc mở và sử dụng tài khoản của người không cư trú tại ngân hàng thương mại tại Việt Nam để thực hiện các giao dịch thu, chi liên quan đến KVNN.

Thông tư 12 sẽ có hiệu lực từ ngày 15/11/2022 và thay thế Thông tư 03/2016/TT-NHNN, Thông tư 05/2016/TT-NHNN và Thông tư 05/2017/TT-NHNN.

Leave a Reply

Your email address will not be published.