Ngày 30/6/2021, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 51/2021/TT-BTC (“Thông tư 51/2021”) về việc hướng dẫn nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong hoạt động đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Thông tư 51/2021 có hiệu lực từ ngày 16/8/2021 thay thế Thông tư số 123/2015/TT-BTC và có một số điểm mới đáng lưu ý sau đây:
1.1 Đối tượng áp dụng
Thông tư 51/2021 hướng dẫn về nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức cung cấp dịch vụ cho nhà đầu tư nước ngoài và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam và áp dụng cho:
✓ Nhà đầu tư nước ngoài, nhóm nhà đầu tư nước ngoài có liên quan.
✓ Thành viên lưu ký, thành viên bù trừ, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức phát hành chứng chỉ lưu ký tại nước ngoài, tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.
✓ Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam, Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con. ✓ Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
1.2 Thêm nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin về các giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài
So với Thông tư 123/2015/TT-BC, Thông tư 51/2021 bổ sung thêm nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ báo cáo sở hữu, công bố thông tin về các giao dịch chứng khoán theo pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài, nhóm nhà đầu tư nước ngoài như sau:
▪ Trường hợp có sự thay đổi số lượng nhà đầu tư nước ngoài trong nhóm nhà đầu tư nước ngoài có liên quan nhưng không có sự thay đổi về tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ báo cáo sở hữu, công bố thông tin thì tổ chức, cá nhân được chỉ định, ủy quyền báo cáo sở hữu, công bố thông tin có trách nhiệm báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, công ty con của Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ khi có sự thay đổi.
▪ Tài liệu báo cáo bao gồm: (i) Bản cập nhật thay đổi về danh sách nhóm nhà đầu tư nước ngoài có liên quan theo mẫu quy định, (ii) Văn bản chỉ định hoặc ủy quyền của nhà đầu tư nước ngoài mới về việc thực hiện nghĩa vụ báo cáo sở hữu, công bố thông tin theo mẫu quy định (trong trường hợp bổ sung nhà đầu tư nước ngoài mới tham gia vào nhóm nhà đầu tư nước ngoài có liên quan).
1.3 Bổ sung thêm 2 nghĩa vụ trong hoạt động cung cấp dịch vụ cho nhà đầu tư nước ngoài
Ngoài việc thực hiện các nghĩa vụ trong hoạt động cung cấp dịch vụ như trước đây, Thông tư 51/2021 còn bổ sung thêm 2 nghĩa vụ trong hoạt động cung cấp dịch vụ mà nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện là:
▪ Thành viên lưu ký phải lập và lưu trữ hồ sơ, chứng từ về các hoạt động lưu ký tài sản trên tài khoản lưu ký của các tổ chức, cá nhân được cấp mã số giao dịch chứng khoán và phải cung cấp khi có yêu cầu của các cơ quan quản lý có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
▪ Thành viên bù trừ phải lưu giữ đầy đủ các chứng từ về bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán của các tổ chức, cá nhân được cấp mã số giao dịch chứng khoán, cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin và các tài liệu liên quan tới hoạt động bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán khi có yêu cầu của các cơ quan quản lý có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
1.4 Bổ sung quy định về thời gian chốt số liệu và lưu trữ báo cáo
Theo Điều 7 của Thông tư 51/2021, thời gian chốt số liệu báo cáo định kỳ và lưu trữ báo cáo của Thành viên lưu ký, Ngân hàng lưu ký, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam, Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam, các công ty con của Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam được thực hiện như sau:
▪ Đối với báo cáo hai tuần: tính từ ngày đầu tiên của tháng báo cáo đến ngày 15 của tháng báo cáo và từ ngày 16 của tháng báo cáo đến ngày cuối cùng của tháng báo cáo (trừ số liệu phản ánh tại thời điểm nhất định).
▪ Đối với báo cáo tháng: tính từ ngày đầu tiên của tháng báo cáo đến ngày cuối cùng của tháng báo cáo (trừ số liệu phản ánh tại thời điểm nhất định).
▪ Đối với báo cáo năm: tính từ ngày 01/01 đến hết ngày 31/12 năm báo cáo (trừ số liệu phản ánh tại thời điểm nhất định). ▪ Các báo cáo được thể hiện dưới hình thức văn bản giấy kèm theo tệp dữ liệu điện tử hoặc trên hệ thống quản lý hoạt động nhà đầu tư nước ngoài của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và phải được lưu trữ trong thời gian tối thiểu là 5 năm.
Nguồn: GV Lawyers